THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT SHTT, THỜI HẠN BẢO HỘ QUYỀN TÀI SẢN ĐỐI VỚI CÁC TÁC PHẨM ÂM NHẠC LÀ

Ngày nay, việc bán và mua hàng trên các trang mạng xã hội như Facebook, Twitter, Instagram… là rất dễ dàng và thuận tiện với tất cả mọi người. Chỉ một vài click chuột là có thể dễ dàng xem và mua sản phẩm nhưng cũng chỉ vài click chuột cũng dễ dàng lấy và sử dụng những tài sản trí tuệ của người khác (như logo, hình ảnh, ảnh chụp, bài giới thiệu sản phẩm, clip giới thiệu sản phẩm,…) để đăng và bán sản phẩm trên các trang mạng xã hội của chính mình. 
Bài viết này phân tích các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam nhằm mục đích giúp các chủ thể kinh doanh trên các trang mạng xã hội hiểu và biết cách bảo vệ quyền SHTT của mình và tránh việc vô ý xâm phạm đến quyền SHTT của các cá nhân, tổ chức khác trong khi kinh doanh trực tuyến. Quyền SHTT đề cập trong bài viết giới hạn các quyền liên quan đến đối tượng là quyền tác giả, là đối tượng liên quan trực tiếp và nhiều nhất trong việc kinh doanh trên các mạng xã hội.

Bạn đang xem: Theo quy định của luật shtt, thời hạn bảo hộ quyền tài sản đối với các tác phẩm âm nhạc là


*

1/ Đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ của quyền tác giả
Đối tượng được bảo hộ quyền tác giả là các tác phẩm – là sản phẩm được “sáng tạo” trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký – và được bảo hộ kể từ thời điểm tác phẩm ấy được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định. Các loại hình tác phẩm được bảo hộ ở Việt Nam bao gồm: (i) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác (chữ nổi cho người khiếm thị, ký hiệu tốc ký và các ký hiệu tương tự thay cho chữ viết mà các đối tượng tiếp cận có thể sao chép được nhiều hình thức khác nhau1); (ii) Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác; (iii) Tác phẩm báo chí; (iv) Tác phẩm âm nhạc; (v) Tác phẩm sân khấu; (vi) Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh); (vii) Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng; (viii) Tác phẩm nhiếp ảnh; (ix) Tác phẩm kiến trúc; (x) Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học; (xi) Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian; (xii) Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.2
*

Như vậy, khi bán hàng trên mạng xã hội có thể có rất nhiều loại hình tác phẩm ra đời và quyền tác giả đối với các tác phẩm này phát sinh ngay khi xuất hiện trên các trang mạng bán hàng ví dụ như logo của doanh nghiệp (đối tượng là tác phẩm mỹ thuật ứng dụng); các bài giới thiệu, quảng cáo sản phẩm (đối tượng là tác phẩm viết); các ảnh chụp của sản phẩm hay mẫu vật… (đối tượng là tác phẩm nhiếp ảnh)…2/ Ai là người có quyền đối với tác phẩm?
Các chủ thể của quyền tác giả bao gồm tác giả (hay đồng tác giả) và chủ sở hữu quyền tác giả.Tác giả: Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm, bao gồm: 
ii. Cá nhân nước ngoài có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam;
iv. Cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo Điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên.3 
*

Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành không quy định rõ như thế nào gọi là “sáng tạo” hay “trực tiếp sáng tạo”. “Sáng tạo” có thể được hiểu là việc tạo ra tác phẩm từ lao động trí óc mà không phải là hành vi sao chép lại từ những gì đã có sẵn trước đó. Một người chỉ được bảo hộ quyền tác giả trong phạm vi mà người đó “trực tiếp sáng tạo”. "Trực tiếp" ở đây phải được hiểu là tác giả là người trực tiếp thể hiện ý tưởng dưới một hình thức vật chất nhất định và tạo nên tác phẩm. Chính vì vậy, người đưa ra ra ý tưởng, làm công việc hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng tạo không phải là tác giả vì họ không "trực tiếp" sáng tạo ra tác phẩm đó. Nói rằng tác giả phải trực tiếp sáng tạo không có nghĩa là tác giả không có quyền kế thừa sự sáng tạo của người khác khi sáng tạo tác phẩm. Khi một tác giả kế thừa tác phẩm hay sự sáng tạo của người khác thì tác giả ấy vẫn được bảo hộ trên những phần mà tác giả ấy đã “trực tiếp sáng tạo” nên. Chính vì vậy, những người dưới đây cũng được công nhận là tác giả như: (i) Người dịch tác phẩm từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác được coi là tác giả tác phẩm dịch; (ii) Người phóng tác từ tác phẩm đã có; người cải biên, chuyển thể tác phẩm từ loại hình nghệ thuật này sang loại hình khác được coi là tác giả của tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể; (iii) Người biên soạn, chú giải, tuyển chọn tác phẩm của người khác thành tác phẩm có tính sáng tạo được coi là tác giả biên soạn, chú giải, tuyển chọn4.Bên cạnh khái niệm tác giả chúng ta còn có khái niệm đồng tác giả. Đó là những người cùng trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm. 
i. Tác giả: khi tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm5;
ii. Các đồng tác giả: khi các đồng tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để cùng sáng tạo ra tác phẩm6;
iii. Tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả: khi tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm cho tác giả là người thuộc tổ chức mình; hoặc tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm7;
iv. Người thừa kế: khi tổ chức, cá nhân được thừa kế quyền tác giả theo quy định của pháp luật về thừa kế8;
v. Người được chuyển giao quyền: khi tổ chức, cá nhân được chuyển giao một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành (quyền tài sản) và khoản 3 Điều 19 của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành (Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm) theo thỏa thuận trong hợp đồng9;
(vi.1) Tác phẩm khuyết danh, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 41 của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành;
(vi.2) Tác phẩm còn trong thời hạn bảo hộ mà chủ sở hữu quyền tác giả chết không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc không được quyền hưởng di sản;
Vai trò của tác giả so với chủ sở hữu quyền tác giả?Chủ sở hữu quyền tác giả là người độc quyền sử dụng, định đoạt tác phẩm về mặt khai thác tài sản. Trong một số các trường hợp, tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả. Tuy nhiên, cũng có trường hợp tác giả không phải là chủ sở hữu quyền tác giả, đó là trong trường hợp nếu tác phẩm được hình thành do có các tổ chức, cá nhân thuê, giao nhiệm vụ cho tác giả thì các tổ chức, cá nhân này sẽ là chủ sở hữu quyền tác giả. Ngoài ra, người được chuyển giao quyền tác giả, hay người thừa kế quyền tác giả cũng là chủ sở hữu quyền tác giả. Việc phân biệt giữa tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả là quan trọng, vì chủ sở hữu quyền tác giả mới chính là người có quyền sử dụng định đoạt tác phẩm về mặt tài sản. Xét về khía cạnh kinh tế thì chủ sở hữu quyền tác giả đóng vai trò quan trọng hơn tác giả, vì khi sử dụng hay trình diễn tác phẩm, các chủ thể khác phải xin phép hay trả thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả.3. Quyền của tác giả và chủ sở hữu tác giảNội dung của quyền tác giả là tổng hợp các quyền nhân thân11 và quyền tài sản12 của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả trong quan hệ pháp luật về quyền tác giả13. 
Quyền nhân thân là quyền của tác giả, tuy nhiên, có thể giải thích rõ hơn như sau:Quyền nhân thân bao gồm quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản. Quyền nhân thân không gắn với tài sản là những quyền gắn liền với các giá trị nhân thân của tác giả và không thể chuyển giao, bao gồm ba quyền: (i) đặt tên cho tác phẩm; (ii) đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; và (iii) bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả14. Vì là quyền nhân thân không được chuyển giao nên nó chỉ được dành cho tác giả (cho dù đồng thời hay không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả). Các quyền này ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín và danh dự của tác giả, tồn tại một cách độc lập đối với quyền tài sản, gắn liền với tác giả kể cả khi quyền sử dụng, định đoạt tác phẩm đã được chuyển giao. Các quyền nhân thân không gắn với tài sản được bảo hộ vô thời hạn, khác với những quyền khác được bảo hộ có thời hạn.Quyền nhân thân gắn với tài sản là quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm15. Chính từ quyền này làm phát sinh bản chất độc quyền của quyền tác giả. Quyền này là quyền nhân thân có thể chuyển giao, gắn với các quyền tài sản trong chế định quyền tác giả, vì thế nó chỉ giành cho chủ sở hữu quyền tác giả và tác giả nếu như tác giả cũng đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả16.

Xem thêm: Nghĩa Của Từ Glaze Là Gì ? (Từ Điển Anh Dịch Nghĩa Của Từ Glaze

Như vậy, có thể đặt ra 02 trường hợp như sau về quyền nhân thân:
Trường hợp Quyền nhân thân bao gồm: 
 Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm (i) Đặt tên cho tác phẩm; (ii) Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; và (iii) Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
 Tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm Quyền (i), (ii), (iii) nêu trên và(iv) Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm.
Quyền tài sản
Quyền tài sản là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả, bao gồm các quyền sau đây: